Chào mừng quý vị đến với Website của Nguyễn Thanh Hậu.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.

Đổi mới Kiểm tra đánh giá môn Sinh học

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thanh Hậu (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:13' 09-08-2009
Dung lượng: 407.0 KB
Số lượt tải: 15
Số lượt thích: 0 người
III. Kỹ thuật thiết kế câu hỏi:
- Trắc nghiệm khách quan.
KI THU?T THI?T K? CU H?I
Câu hỏi đóng
Đánh giá mức độ
nhận biết,
ghi nhớ,
đôi khi có vận dụng
Câu hỏi mở
Đánh giá mức độ
hiểu và vận dụng
(tại sao?
như thế nào?
bằng cách nào?)
Câu hỏi TNKQ
Câu hỏi
nhiều
lựa chọn

Câu hỏi
“Đúng – Sai”

Câu hỏi
Ghép đôi

Câu hỏi
Điền khuyết

a. Câu hỏi đóng:
Dùng để đánh giá mức độ nhận biết, ghi nhớ hoặc đôi khi có vận dụng kiến thức có tính suy luận, phát hiện tìm tòi, giải quyết vấn đề.
Ví dụ:
*Sinh học 6: Phân biệt các loại thân biến dạng và nêu các chức năng của chúng.
* Sinh học 8:Phân biệt phản xạ có điều kiện và phản xạ không điêu kiện. Trình bày ý nghĩa của phản xạ đối với đời sống của sinh vật và con người.
* Sinh học 9: Kể tên các tác nhân chủ yếu gây nên ô nhiễm môi trường và tác hại của ô nhiễm môi trường.
b. Câu hỏi mở (có nhiều lời giải đúng).
Dùng để đánh giá mức độ hiểu và vận dụng kiến thức, tính sáng tạo qua việc phân tích tổng hợp khái quát hoá …Điều quan trọng không phải là câu trả lời đúng mà là tại sao và làm thế nào HS lại đi đến câu trả lời ấy; bằng cách nào HS xác định được đó là câu trả lời cần thiết.
Ví dụ:
* Sinh học 6: Liệt kê những cây một lá mầm và cây hai lá mầm trong sân trường.
* Sinh học 7: Tìm hiểu những động vật có trong sân trường(mật độ, độ tuổi, tỉ lệ đực cái, nơi sống chủ yếu, đặc điểm hình thái, đặc điểm thích nghi…).
* Sinh học 8: Lập khẩu phần ăn cho bản thân em về mùa hè (hoặc mùa đông).
* Sinh học 9: Tìm hiểu những hoạt động làm ô nhiễm môi trường ở địa phương em. Đề xuất những biện pháp khắc phục.
Một số kĩ năng đặt câu hỏi theo các mức độ nhận thức tăng dần của BLoom
1. Câu hỏi “Biết”
- Mục tiêu của loại câu hỏi này là kiểm tra trí nhớ của HS về các dữ kiện, số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm…
- Việc trả lời những câu hỏi này giúp HS ôn lại được những gì đã học, đã đọc hoặc đã trải qua
- Các từ để hỏi thương là: “Cái gì…”, “Bao nhiêu…”, “hãy định nghĩa…”, “Em biết những gì về…”, “Khi nào…”, “Bao giờ…”, Cái nào…”, “Hãy mô tả…”v.v…
- Ví dụ:
+ Hãy phát biểu định nghĩa mô là gì?
+ Hãy Liệt kê các yếu tố của một khung phản xạ?
2. Câu hỏi “hiểu”
- Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ kiện, số liệu, tên tuổi, địa điểm, các định nghĩa…
- Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy HS có khả năng diễn tả bằng lời nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội dung đang học.
- Các cụm từ để hỏi thường là: “Tại sao…”, “Hãy phân tích…”, “hãy so sánh…”, “Hãy liên hệ…”, “Hãy phân tích các yếu tố cơ bản…”.
Ví dụ:
+ Hãy phân tích cấu trúc của một tế bào người?
+ Hãy so sánh PXKĐK và PXCĐK?
3. Câu hỏi “Vận dụng”
Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra khả năng áp dụng các dữ liệu , các khái niệm, các quy luật, các phương pháp… vào hoàn cảnh và điều kiện mới.

Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy HS có khả năng hiểu được các quy luật, các khái niệm,…có thể lựa chọn các phương án để giải quyết vấn đề, vận dụng các phương án này vào thực tiễn.

Khi đặt câu hỏi cần tạo ra tình huống mới khác với điều kiện đã học trong bài học và sử dụng cụm từ như: “Làm thế nào…”, “Em có thể giải quyết khó khăn về…như thế nào?”.

Ví dụ:
+ Hãy tính khẩu phần ăn trung bình cho một học sinh lớp 8 (15 tuổi).
+ Làm thế nào để đo được huyết áp?
4. Câu hỏi “Phân tích”
Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra khả năng phân tích nội dung vấn đề, từ đó đi đến kết luận, tìm ra mối quan hệ hoặc chứng minh một luận điểm.

Việc trả lời câu hỏi này cho thấy HS có khả năng tìm ra được các mối quan hệ mới, tự diễn giải hoặc đưa ra kết luận.

Việc đặt các câu hỏi phân tích đòi hỏi học sinh phải giải thích được các nguyên nhân từ thực tế: “Tại sao…?”, đi đến kết luận: “Em có nhận xét gì về…?”, “Hãy chứng minh… (một luận điểm nào đó)”… Các câu hỏi phân tích thường có nhiều lời giải.

Ví dụ:
+ Từ kết quả tìm hiểu chức năng tuỷ sống, hãy nhận xét về mối quan hệ giữa cường độ kích thích với kết quả quan sát.
+ Hãy chứng minh cận thị là tật mà mơt chỉ có khả năng nhìn gần.
5. Câu hỏi “Tổng hợp”
Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra xem HS có thể đưa ra những dự đoán, giải quyết một vấn đề, đưa ra câu trả lời hoặc đề xuất có tính sáng tạo.

Câu hỏi tổng hợp thúc đẩy sự sáng tạo của học sinh, các em phải tìm ra những nhân tố và những ý tưởng mới để có thể bổ sung cho nội dung.

Việc trả lời câu hỏi tổng hợp khiến cho HS phải: dự đoán, giải quyết vấn đề và đưa ra các câu trả lời sáng tạo. Cần nói cho HS biết rõ rằng các em có thể tự do đưa ra những ý tưởng, giải pháp mang tính sáng tạo, tưởng tượng của riêng mình. Các câu hỏi này đòi hỏi một thời gian chuẩn bị khà dài, vì vậy hãy để cho HS có đủ thời gian tìm ra câu trả lời.

Ví dụ:
+ Hãy đề ra những biện pháp vệ sinh hệ thần kinh. Tại sao đề ra như vậy?
+ Hãy tìm cách xác định chức năng của tuỷ sống.
6. Câu hỏi “Đánh giá”
Mục tiêu của loại câu hỏi này là để kiểm tra xem học sinh có thể đóng góp ý kiến và đánh giá ý tưởng, giải pháp… dựa vào các tiêu chuẩn đề ra.
Ví dụ: Theo em làm thế nào để ngăn chặn đại dịch AIDS?
Hiệu quả kích thích tư duy học sinh khi đặt câu hỏi ở mức độ nhận thức thấp hay cao sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng của HS. Sẽ hoàn toàn vô tác dụng nếu GV đặt câu hỏi khó để HS không có khả năng trả lời được. Và mặt khác, thật không có nghĩa nếu đặt câu hỏi quá dễ đối với khả năng của HS. GV cần có nhận xét, động viên ngay những câu trả lời đúng cũng như những câu trả lời chưa đúng. Nếu tất cả HS đều trả lời sai thì GV cần đặt những câu hỏi đơn giản hơn để HS có thể trả lời được vì HS chỉ hứng thú học khi họ thành công trong học tập. Dưới đây xin gợi ý một số kĩ thuật trong khi hỏi.
6. Câu hỏi “Đánh giá”
*Nên:
+ Dừng một chút sau khi đặt câu hỏi.
+ Nhận xét một cách khuyến khích đối với câu trả lời của học sinh.
+ Tạo điều kiện cho nhiều học sinh trả lời một câu hỏi.
+ Tạo điều kiện cho mỗi HS đều được trả lời câu hỏi ít nhất một lần trong giờ học.
+ Đưa ra những gợi ý nhỏ cho câu trả lời hoặc dựa vào một phần nào đó trong câu trả lời để đặt tiếp câu hỏi khác.
+ Yêu cầu học sinh giải thích câu trả lời của mình.
+ Yêu cầu học sinh liên hệ câu trả lời với những kiến thức khác.
*Không nên:
+ Nhắc lại câu hỏi của mình.
+ Tự trả lời câu hỏi của mình đưa ra.
+ Nhắc lại câu trả lời của học sinh.
2. Trắc nghiệm khách quan.
Câu hỏi trắc nghiệm khách quan thường có những dạng sau:
* Câu hỏi có nhiều phương án lựa chọn .
* Câu “đúng sai”
* Câu ghép đôi
* Câu điền khuyết .
* Kỹ thuật viết câu hỏi dạng trắc nghiệm khách quan: ( dạng câu hỏi nhiều phương án lựa chọn)
Cấu trúc của câu hỏi gồm: câu dẫn và phương án lựa chọn. Trước câu dẫn, có phần “lệnh” hoặc yêu cầu để HS biết cần phải làm gì để trả lời câu hỏi.
- Câu dẫn : Có thể là một câu hỏi hoặc một câu dẫn chưa hoàn chỉnh. Câu dẫn viết ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu để HS hiểu rõ câu câu hỏi phải trả lời; vấn đề cần giải quyết.
Ví dụ: Có những câu dẫn kém chất lượng, không rõ ràng:
Hệ tuần hoàn:
Một vòng tuần hoàn,tim hai ngăn, máu đỏ tươi.
B. Một vòng tuần hoàn,tim hai ngăn, máu pha.
C. Hai vòng tuần hoàn,tim ba ngăn, máu pha.
D. Hai vòng tuần
 
Gửi ý kiến